Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh
Đền · Thành phố Đồng Nai
Nội dung tổng quan bên dưới đang chờ biên tập viên kiểm chứng lại với nguồn xác thực — tham khảo, chưa đảm bảo chính xác 100%.
Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh tại phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là di tích lịch sử cấp quốc gia ghi dấu cuộc chiến đấu kiên cường chống thực dân Pháp năm 1905. Nơi đây phối hợp không gian đền thờ và khu lăng mộ của các nghĩa sĩ, là điểm giáo dục truyền thống cách mạng và thực hành tín ngưỡng tri ân anh hùng dân tộc tiêu biểu của vùng đất Trấn Biên - Đồng Nai.
Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh ở đâu?
Tại Thành phố Đồng Nai.
Tọa độ: 10.9471362, 106.8566223
Di tích tọa lạc tại phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Từ trung tâm thành phố Biên Hòa (khu vực công viên Biên Hùng/chợ Biên Hòa), di chuyển theo trục đường Phạm Văn Thuận khoảng 4 - 5 km về hướng Tam Hiệp, rẽ vào đường nhánh dẫn tới khu di tích Đền thờ và mộ Đoàn Văn Cự. Thuận tiện di chuyển bằng xe máy, ô tô cá nhân hoặc xe buýt nội tỉnh.
Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh thờ ai?
- Đoàn Văn Cự — Thủ lĩnh nghĩa quân kháng Pháp. Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp tại căn cứ Suối Đỉa (vùng Bến Gỗ - Biên Hòa), hy sinh anh dũng năm 1905.
- 16 Nghĩa binh — Nghĩa sĩ kháng Pháp. 16 chiến sĩ cùng sát cánh chiến đấu và hy sinh cùng thủ lĩnh Đoàn Văn Cự trong trận tập kích của quân Pháp vào ngày 8 tháng 4 năm Ất Tỵ (1905).
Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh có mấy bàn thờ?
3 ban thờ chính.
- Ban thờ Tiền hiền / Liệt sĩ tiền bối — Đặt tại gian ngoài hoặc phía trước tiền điện theo nghi thức truyền thống.
- Chính điện thờ Thống binh Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh — Nằm ở vị trí trung tâm hậu điện, đặt linh vị và di ảnh của thủ lĩnh Đoàn Văn Cự cùng bài vị 16 nghĩa binh anh dũng.
- Khu mộ tập thể 16 nghĩa binh và mộ thủ lĩnh — Khuôn viên ngoài trời lưu giữ phần mộ của các nghĩa sĩ hy sinh trong trận chiến năm 1905.
Lễ hội chính của Đền thờ Đoàn Văn Cự và 16 Nghĩa binh vào thời điểm nào?
08/04 — Lễ giỗ và tưởng niệm thủ lĩnh Đoàn Văn Cự cùng 16 nghĩa binh được tổ chức trang trọng vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch hằng năm với các nghi thức tế lễ cổ truyền và dâng hương tưởng niệm.
Kinh nghiệm hành lễ
Cách sắm lễ: Lễ vật thông thường gồm hương, hoa tươi, quả ngọt, trầu cau, trà, nước trong. Đối với lễ giỗ chính, người dân và chính quyền có thể dâng lễ chay hoặc lễ mặn (xôi, gà, thịt luộc), tránh phô trương, xa hoa lãng phí.
Cách dâng lễ: Dâng lễ trang nghiêm tại bàn thờ chính trước, thắp hương và bái lạy theo nghi thức tri ân tiền nhân nghĩa liệt, sau đó thắp hương tưởng niệm tại khu mộ nghĩa binh trong khuôn viên.
Cách hạ lễ: Sau khi hết tuần hương, bái tạ xin hạ lễ. Tiền vàng (nếu có) đem hóa tại nơi quy định, vật phẩm chia sẻ lộc cho gia đình hoặc khách hành hương.
Văn khấn tham khảo
Văn khấn tham khảo chung theo loại hình tín ngưỡng, không phải văn bản chính thức của di tích.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần). Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy các bậc tiền nhân anh hùng nghĩa liệt, thủ lĩnh nghĩa binh cùng các nghĩa sĩ đã vị quốc vong thân. Hôm nay là ngày... tháng... năm... Tín chủ con là:... Ngụ tại:... Thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật dâng lên trước án. Kính cẩn tưởng niệm công đức gìn giữ non sông, xả thân vì độc lập dân tộc của các bậc anh linh. Nguyện cầu chư vị chứng giám lòng thành, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, gia quyến bình an, mạnh khỏe, sở cầu như ý. Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).
Thông tin tổng quan
Di tích lịch sử ghi dấu phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Đồng Nai đầu thế kỷ 20, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước bất khuất gắn liền với phong trào Thiên Địa Hội ở Nam Bộ.
Năm khởi dựng: Sau năm 1905
Kiến trúc: Kiến trúc mang phong cách đền miếu truyền thống Nam Bộ với mái ngói âm dương, bờ nóc chạm phù điêu lưỡng long chầu nguyệt, gian thờ trang nghiêm bằng kết cấu cột gỗ hoặc bê tông giả gỗ, bao quanh bởi sân vườn cây xanh.
Xếp hạng di tích: Xếp hạng Di tích Lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 774/QĐ-BT ngày 21 tháng 6 năm 1998 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).